Cụ thể, Luật gồm 6 chương, 46 điều, nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về phòng bệnh. Từ đó, góp phần nâng cao sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ, cũng như chất lượng cuộc sống của người Việt Nam thông qua việc kiểm soát hiệu quả bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm và các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật là quy định lấy ngày 07 tháng 4 hằng năm là Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam. Đây là cột mốc nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, hướng tới xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh, cũng như thúc đẩy trách nhiệm của mỗi người dân trong việc chủ động rèn luyện và bảo vệ sức khỏe.
Đặc biệt, chính sách về khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc miễn phí đang nhận được sự quan tâm lớn của người dân. Theo đó, người dân sẽ được hưởng chế độ này ít nhất mỗi năm một lần, dựa trên nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên cụ thể. Quy định này nhằm chủ động kiểm soát bệnh tật từ sớm, tối ưu hóa chi phí y tế và cải thiện toàn diện chất lượng sống cho nhân dân.
Đáng chú ý là việc lần đầu tiên nội dung phòng, chống bệnh không lây nhiễm và rối loạn tâm thần được đưa vào luật, nhằm bắt kịp với xu hướng bệnh tật hiện nay. Luật quy định về phòng, chống yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm, bao gồm các nội dung về các biện pháp phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm và phát hiện sớm, dự phòng bệnh không lây nhiễm và quản lý điều trị bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng; dự phòng cho người có nguy cơ cao và quản lý, điều trị người mắc bệnh không lây nhiễm.
Đối với công tác phòng, chống các rối loạn sức khỏe tâm thần, đây là nội dung bổ sung hoàn toàn mới, khẳng định sức khỏe tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khỏe toàn diện. Theo đó, Luật quy định cụ thể về dự phòng mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng, song song với việc làm rõ công tác quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người bệnh. Bên cạnh đó, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác này cũng được xác định cụ thể.
Đối với công tác tiêm chủng, người dân có quyền sử dụng và được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin, sinh phẩm theo lứa tuổi trong suốt vòng đời để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng. Trên tinh thần đó, Luật tiếp tục duy trì các quy định về tiêm chủng bắt buộc và tiêm chủng tự nguyện, song song với việc bảo đảm nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng và hoạt động tiêm chủng chống dịch. Đặc biệt, luật cũng quy định rõ về trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tính mạng.
Một trong những điểm mới nổi bật là quy định về dinh dưỡng trong phòng bệnh. Theo đó, việc thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh phải được thực hiện trong suốt vòng đời, theo lứa tuổi, đối tượng; nhằm bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, phù hợp với thể trạng, văn hóa và điều kiện kinh tế của người Việt Nam. Trong đó, đặc biệt chú trọng dinh dưỡng từ khi thai nhi đến trẻ được 24 tháng tuổi (còn gọi là dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời). Bên cạnh đó, Luật còn quy định về dinh dưỡng đối với phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và trẻ em; dinh dưỡng đối với người trong độ tuổi lao động; cũng như dinh dưỡng đối với người cao tuổi.
Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, Luật cũng quy định cụ thể về các điều kiện bảo đảm để phòng bệnh. Trước hết là việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phòng bệnh. Trong đó, đặt ra yêu cầu thống nhất, tích hợp, liên thông dữ liệu giữa các ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phục vụ phòng bệnh đi đôi với việc đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin. Đồng thời, điều khoản này nhấn mạnh việc ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo vào hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, theo dõi, dự báo, cảnh báo đối với các loại bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần cùng các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe. Mặt khác, Luật cũng đề cập đến việc xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và sản xuất vắc xin, sinh phẩm; đảm bảo các hoạt động này được thực hiện đúng theo quy định pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nghiên cứu y sinh học trên cơ thể người.
Đáng chú ý, việc thành lập Quỹ phòng bệnh được xem là bước đi mang tính đột phá để hiện thực hóa các chính sách trên. Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, trực thuộc Bộ Y tế, hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho hoạt động phòng bệnh. Theo đó, nguồn lực của Quỹ sẽ tập trung phân bổ cho các nhiệm vụ trọng điểm, bao gồm: phòng, chống tác hại của thuốc lá; khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc miễn phí; đồng thời đẩy mạnh phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phòng bệnh; hợp tác quốc tế về phòng bệnh; thực hiện một số dịch vụ phòng bệnh. Nhằm bảo đảm tính công khai và minh bạch, Luật quy định định kỳ 03 năm một lần, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về kết quả hoạt động cũng như việc quản lý, sử dụng nguồn Quỹ này.
Với nhiều chính sách mới mang tính toàn diện và đột phá, Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển mạnh mẽ trong định hướng phát triển của ngành Y tế, từ mô hình chú trọng chữa bệnh sang ưu tiên phòng bệnh, từ bị động sang chủ động, từ tập trung điều trị sang tăng cường dự phòng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để xây dựng hệ thống y tế hiện đại, chất lượng và bền vững. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong tình hình mới./.